Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009

Ông sáu Tường-NGƯỜI VIẾT CHUYỆN CỔ TÍCH THỜI NAY

ÔNG NGUYỄN VĨNH NGHIỆP -
NHỮNG DẤU ẤN KHÓ PHAI
Ngày 16 -8-2007, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp đã được đưa về điều trị tại BV Nguyễn Trãi, sau gần một tháng chữa trị tại Singapore và sau 5 ngày hôn mê.
Thông tin về sức khoẻ ông được hàng vạn người dân nghèo từng mang ơn ông và những người quen biết, yêu kính ông, quan tâm từng ngày. Ngoài khung cửa kính của căn phòng B7, bệnh viện Nguyễn Trãi lúc nào cũng có những người nhìn đau đáu vào mái tóc bạc của ông với lời cầu mong ông sẽ khoẻ dần lên… Sáng 21 -8-2007, ông Nguyễn vĩnh Nghiệp đã tháo được ống trợ thở, có thể uống sữa và nói được một vài câu với khách. Quả là kỳ tích đã đến với người cán bộ tận lực với công việc, tậm tâm với dân và tận hiến cuộc đời vì lý tưởng đã theo.
Xin chuyển đến ông lời cầu chúc sức khỏe của hàng vạn vạn người đã hàm ơn ông và lời cầu mong ông ngày một khỏe hơn của rất nhiều người đang chờ được ông cứu giúp
1. NIỀM RIÊNG
Đang là người được nhiều người, nhiều đơn vị tìm gặp để tranh thủ sự đồng tình của ông, Chủ tịch UBND TP; rồi ông trở thành người chuyên đi “xin” lại từ những đơn vị và cá nhân hảo tâm. Quả chẳng dễ gì khi đang ở trên đỉnh cao của công danh, thoắt một cái quay sang làm những việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, mềm mỏng và nhún mình như việc đi vận động tiền cho quỹ từ thiện mà ông Nguyễn vĩnh Nghiệp đã làm tốt trong hơn 10 năm qua. Nhân 10 năm ngày thành lập Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP tôi đã thực hiện bài viết về ông, khi hỏi: “Oâng thôi chức Chủ tịch UBND TPHCM vì sức khoẻ không tốt, sao ông lại nhận chức Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố với công việc cũng không nhẹ hơn tí nào ?Oâng nhận xét thế nào về công việc của hai chức chủ tịch?”, trả lời tôi là tiếng cười hào sảng dù không trong trẻo của ông: “Là Chủ tịch UBND TP, tôi có thể lệnh cho nhiều người và có nhiều Phó Chủ tịch giúp việc. Nếu bận hay mệt tôi có thể phân công các PCT UBND tiếp khách thay. Bây giờ, tham gia Hội BTBNN TP cùng tôi là những người tốt bụng, làm việc tự nguyện; do vậy tôi phải làm hầu hết các việc, nếu cần, tôi chỉ “nhờ” chứ đâu “lệnh” được. Xưa, Chủ tịch UBND TP thường là người khác tìm đến mình để mong có sự đồng tình của tôi cho hoạt động của họ, đơn vị họ. Còn bây giờ, Chủ tịch này phải đích thân đi xin vận động sự đóng góp của mọi người cho hoạt động nhân nghĩa. Chủ tịch này vất vả hơn chức Chủ tịch trước nhiều, nhưng hạnh phúc thì cảm nhận được qua từng cuộc đổi đời diễn ra trước mắt chúng ta, từng ngày”.
Trong suốt cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho cộng đồng, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp luôn nghĩ đến cái chung, cái lợi ích to lớn của cộng đồng mà không tính toán đến sự thiệt hơn cho đời riêng. Oâng là người kiên cường, thể hiện sự quyết liệt, yêu ghét rõ ràng nhưng lại rất hay dấu cảm xúc riêng. Có lẽ, chẳng mấy ai biết, trong cuộc đời riêng ông đã từng cắn răng khóc thầm vì nỗi đớn đau mất mát to lớn của riêng mình.
Những năm chiến tranh nổ ra ở biên giới Tây Nam, Nguyễn Đăng Dũng, con trai duy nhất của ông, Bí thư Đoàn trường Marie Curie vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông đã trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Mẹ ông xót thằng cháu trai duy nhất đã gợi ý ông “nói chuyện” với quận đội để Dũng ở nhà. Oâng lý giải:”Chiến tranh cay nghiệt với mọi người, tôi không thể bảo vệ con mình để con người khác hy sinh. Núm ruột nào đứt mà không đau, ai hy sinh cũng khiến mẹ cha đớn đau như nhau… ”. Chàng trai Nguyễn Đăng Dũng, đã bước vào chiến trường Tây Nam với hào khí của cha, với trách nhiệm của một Bí thư Đoàn trường. Chiến đấu tại mặt trận Tây Nam hơn 1 năm, Nguyễn Đăng Dũng hy sinh khi cậu vừa tròn 19 tuổi! Bà nội và mẹ cậu ngã quỵ bên thân thể đứa con trai bé bỏng phủ cờ đỏ thắm.
Kết thúc chuyến đi 5 nước Châu Aâu trở về, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp đã quỵ ngã khi nhận lại thân xác đứa con trai yêu quý mà ông vừa tiễn nó đi sau đợt phép cách đó không bao lâu…Khi ấy, ông đang là chủ tịch Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2.DẤU ẤN KHÓ PHAI
15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Vĩnh Nghiệp, gia nhập Uûy ban Nhi đồng cứu vong trong phong trào chống Pháp tại Cà Mau, quê hương cậu. Sau đó, cậu trở thành Bí thư Đảng uỷ thị xã Bạc Liêu, rồi Bí thư thị xã Sóc Trăng, khi chưa tròn 25 tuổi.
Năm 1954, từ chối tập kết ra Bắc để đi học, chàng bí thư trẻ Nguyễn Vĩnh Nghiệp ở lại miền Nam với cuộc chiến đấu đang ngày một khó khăn hơn với nhiệm vụ mới: Phó Bí thư Phân khu Sài Gòn - Gia Định. Năm 1969, ông là Bí thư liên quận 4 và để tránh bị lộ thân phận, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp đã hoạt động với nhiều bí danh: Ba Công, Tám Kiến, Mười Bền và Sáu Tường. Năm 1975,ông giữ chức Trưởng ban Tổ chức Thành uỷ TPHCM. Từ 1982-1989, ông là Phó Chủ tịch UBND TP.HCM. Từ 1989 đến 1993, ông là Chủ tịch Uỷ Ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1994,ông xin từ chức vì bệnh .
Trong suốt những năm ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp giữ chức Chủ tịch UBND TPHCM, được phân công theo tuyên truyền hoạt động của UBNDTP nên tôi đã cảm nhận sự tận tâm, tận lực và tính cách quyết liệt của vị Chủ tịch UBND TP những năm đầu đổi mới của đất nước. Trong ánh mờ sáng của buổi bình minh của đổi mới, ông đã “đứng mũi,chịu sào” những công trình vốn còn nhiều tranh cãi như con đường liên quận - nối Nhà Bè với ốc đảo Duyên Hải (bây giờ là Cần Giờ) với quyết tâm kéo ngắn khoảng cách cuộc sống văn minh cho người dân các vùng sâu, xa của thành phố. Còn nhớ, khi ông quyết định làm con đường lấn biển nối huyện đảo Duyên Hải với đất liền, nhiều người đã hỏi nhau: “Oâng Nghiệp định thay bà Nữ Oa, đội đá và đường?”. Ngày thông đường, ông cười thật to, thật sảng khoái khi nhìn lũ trẻ con chạy tung tăng trên con đường đất đỏ như một đường vẽ kiêu hãnh trên bản đồ thành phố. Oâng cũng là người vạch kế hoạch đưa nước sạch về vơiù nhân dân huyện đảo Duyên Hải. Trong thực hiện việc tăng cường sự hợp tác trong khoa học kỹ thuật quốc tế vào công tác chăm sóc sực khoẻ cho nhân dân và cán bộ khu vực phía nam, ông đã đồng ý cho Giám đốc Sở Y Tế TP HCM, Dương Quang Trung tiến hành các thủ tục thành lập Viện Tim, mà đến bây giờ, nơi ấy đã trả lại cuộc sống hữu dụng cho gần 20.000 cuộc đời. Trong sự phát triển của khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, trên vùng đàm lầy lội, nhiễm phèn cũng còn đó những giọt mồ hôi và dấu chân của vị Chủ tịch UBND TP có tầm nhìn xa này. Vốn sống ở vùng Cà Mau sông nước bạt ngàn ruộng lúa, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp đã xót xa khi cầm trong tay những đọt đòng đòng xác xơ ngả màu vàng cháy khi chúng chưa kịp đi hết thời con gái của cây lúa và ông quyết định thực hiện công trình thuỷ nông kênh Đông để mang màu xanh đến với vùng đất thép thành đồng, Củ Chi.
Những dấu ấn này, đến nay không hề cũ, chẳng hề thừa mà vẫn đang phát huy thành quả của nó đã khẳng định sự quyết liệt và tầm nhìn chiến lược của ông, vị chủ tịch UBND TP HCM tâm huyết với công cuộc đổi mới đất nước bằng những việc làm cụ thể.
3.VIỆC CHUNG
Nhận Chủ chủ tịch Hội BTBNNTP, ông vất vả hơn xưa nhiều lần. Nhưng, với ông, công việc nào đã nhận cũng khiến ông say mê đến quên mình. Tôi nhớ, khi chương trình “Mắt sáng cho người mù nghèo” bắt đầu đi vào hoạt động, quỹ hội chưa có bao nhiêu tiền, thậm chí có nhiều lần ông đi vay tiền bạn bè để mổ mắt cho người nghèo theo đúng kế hoạch, rồi vận động bù lại sau. Hưởng ứng đợt vận động của ông, năm 2000, báo Sài Gòn Giải Phóng thực hiện chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Cho Em” tại sân Lan Anh. Oâng Nguyễn Vĩnh Nghiệp có mặt để vận động ngay trên sân khấu. Lần ấy, tiền lời thu được đã mổ mắt cho 200 em nhỏ mù nghèo ở các huyện xa của TP HCM.
Với ông, nỗi ray rứt khi nhìn các trẻ em , người nghèo dân tộc vùng Tây nguyên sống trong bóng đêm là điều ông cánh cánh bên lòng. Tết năm 2003, báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Cho Em 2” tại Pleiku để gây quỹ mổ mắt cho người dân tộc mù nghèo. Oâng đã bỏ chuyến đi nước ngoài để đến với Phố Núi dự đêm nhạc thiện nguyện ấy, dù hôm đó đã là 28 tết.ø Số tiền thu được từ các nhà hảo tâm của tỉnh Gia Lai dành cho chương trình ca nhạc trên và sự đóng góp thêm của Hội BTBNN TP đã mang đến 1.965 cuộc đời mới trên vùng đất Tây nguyên đấy nắng và gió, dịp Xuân về…
****
Đến nay, điều làm ông băn khoăn suy nghĩ nhiều nhất là ai sẽ thay ông ở vị trí Chủ tịch Hội BTBNN TP để hoạt động Hội ngày càng phát triển, để ngày càng có nhiều bệnh nhân nghèo các nơi được giúp đỡ? Khi cơn đau nặt người vừa giảm, ông lại nghỉ đến việc đi vận động tiền cho quỹ Hội. Trước khi ông đi vào cơn đau kịch phát lần này, ông đã kịp vận động hơn 3 tỷ đồng cho hoạt động mổ mắt mù cho người nghèo vùng sâu và vá môi cho trẻ vùng cao; theo kế hoạch đã bàn với các địa phương...

Ở tuổi “thất thập cổ lai hy” người ta chỉ thích vui với cây cỏ, chơi đùa với với con cháu, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp thì không thế và ông không thể quên đi nỗi nhọc nhằn, đớn đau của hàng vạn người bệnh nghèo đang chờ sự cứu giúp của Hội BTBNN TP, mà ông là chủ tịch trong hơn 10 năm qua. 77 tuổi, ông vẫn đi nhiều nơi và ông vẫn làm được nhiều việc thiện cho đời với tấm lòng sắt son vì đảng vì dân mà ông hằng nguyện hiến, từ thời niên thiếu.
Có điều, hàng vạn người bệnh nghèo không nhớ ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp là ai, nhưng họ rất nhớ về người đã tái sinh họ lần nữa trên cuộc đời này có tên: ông Sáu Tường, người được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, thời kỳ đổi mới mà thành tích của ông là những con số biết nói: hơn 800.000 ngàn người mù tìm được ánh sáng, hơn 400.000 trẻ tìm lại được nụ cười lành lặn, hơn 300.000 cháu được “đi bằng xe, nghe bằng máy”…
4. NGƯỜI VIẾT TRUYỆN CỔ TÍCH BẰNG TRÁI TIM
Đầu 1994, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp, Chủ tịch UBND TPHCM đã làm đơn xin thôi chức vì bệnh. 3 năm dưỡng bệnh, về thăm lại quê hương thời niên thiếu và thăm lại những người đã một thời cưu mang, che dấu ông. Đối diện với sự thật. Ôâng Sáu Tường (bí danh của ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp) đã nhiều đêm trăn trở, ray rứt với những tiếng thở dài, chép miệng cam chịu những đau đớn, dị tật do di chứng chiến tranh trên thân thể các đồng đội cũ, của những người dân nghèo từng cưu mang ông ngày xưa. Ông mang nỗi ray rứt, ưu tư ấy bàn bạc với cô Tư Duy Liên (nguyên Phó Chủ tịch UBND TP), cô Bảy Huệ (phu nhân cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và cuối cùng, Hội Bảo trợ bệnh viện miễn phí An Bình đã được ra đời mà ông là Chủ tịch Hội. Sau này, để mở rộng địa bàn và đối tượng giúp đỡ, ông và các đồng đội cũ đã đổi tên thành Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo TP (Hội BTBNNTP). Và những câu chuyện cổ tích đẹp có thật giữa đời thường bắt đầu từ đây…
5. “GIÀNG ƠI! CÁN BỘ ĐẢNG CŨNG LÀM SÁNG MẮT MÌNH RỒI “
Câu chuyện một gia đình mù ở Quảng Ngãi được sáng mắt là câu chuyện kể nhiều nước mắt những ngày giáp Tết năm 1998. Nhà anh Nguyễn Văn Làm (Quảng Ngãi) có 4 người, đã nghèo lại có 3 người lâm vào cảnh mù loà nên cả nhà vừa làm thuê vừa mò mẫn ăn xin vẫn không đủ sống. Một lần đi làm thuê anh Làm nghe chuyện người mù có thể sáng mắt. Không tin vào có vẻ chuyện cổ tích ấy, nhưng, chỉ cần có chút hy vọng là anh Làm vẫn cố dọ hỏi. Cuối cùng anh đã có địa chỉ của ông Sáu Tường, người có thể làm được chuyện khó tin ấy ở Thành phố Hồ Chí Minh. Để vào được TP HCM anh Làm đã “tổ chức” gia đình mình một nhóm ăn xin bằng cách biểu diễn đàn nhị, hát bài chòi trên các chuyến xe lửa xuôi nam. Cu Phước, 5tuổi con trai anh Làm, đàn nhị. Nguyễn Thị Khéo, chị của Phước, 19 tuổi cùng cha hát bài chòi. Bà Nguyễn Thị Chín, 79 tuổi, bà nội Phước “chịu trách nhiệm” đưa chiếc nón lá ra để nhận tiền và cơm bố thí. “Ban nhạc” ấy bị đuổi xuống xe biết bao lần, anh Làm không nhớ, nhưng anh chỉ nhớ là hơn 2 tháng sau họ mới vào đến Hội BTBNN TP.
Oâng Sáu Tường và các cộng sự đón họ bằng bữa ăn no nhất trong đời, được tắm rửa và mỗi người được thay quần áo mới, trước khi họ bước vào cuộc đổi đời ở Trung tâm Mắt Thành phố. Ngày tấm băng mắt được gỡ ra, ba bà cháu đã giật bắn người vì “ sáng chói quá”. Không chỉ là màu đen tối tăm đeo bám họ hàng chục năm qua mà là ánh sáng muôn màu! Khéo, cô gái mù suốt 19 năm, lần đầu tiên trong đời nhìn thấy bà cụ già bên cạnh gọi tên mình bằng giọng rất quen: “Uûa, bà nội hả”, rồi hai bà cháu bật khóc. “Đừng đi lại con,mắt chưa khoẻ mà” trố mặt nhìn người đàn ông nghèo khổ đang chảy nước mắt, đứng bên cạnh, cu Phước hỏi:”Bộ…là cha hả?”. Cả 4 người cùng khóc sụt sùi vì hạnh phúc bất ngờ. Cả đêm hôm ấy, 4 bà cháu không dám ngủ vì sợ “nhắm mắt ngủ lỡ mai mù lại thì chết”. Bác sĩ Bùi Thu Nhàn, GĐ TT Mắt phải khuyên họ đi ngủ để ổn định mắt mới phẫu thuật. Nghe thế 3 bà cháu nhắm vội mắt. Khi ánh bình minh rọi qua cửa sổ chiếu vào giường, bà Chín, Khéo và cu Phước ngồi bật dậy, nhìn sững vào khoảng sân đầy nắng vỗ tay liên hồi :”Trời ơi, tui không bị mù lại nữa, bà cháu tui sáng mắt luôn luôn rồi nè bác sĩ ơi, nhà nước ơi..”, rồi họ lại khóc sụt sùi.Trước khi chia tay, bà Chín đưa bàn tay thô ráp, nhăn nheo nắm lấy tay bác sĩ Nhàn, rồi quay sang nắn nắn bàn tay ông sáu Tường, nói như khóc:”Gia đình tui cám ơn bác sĩ, cám ơn nhà nước và ông Sáu giúp gia đình tui mấy chục năm mới nhìn thấy mặt nhau, thấy đường đi làm ăn không phải ngửa tay ăn xin người khác nữa..”. Còn cu Phước đu chân ông Sáu Tường :”Cám ơn ông Sáu “làm” cho con thấy mặt cha, mặt bà nội, mai mốt con đi học chữ để làm việc nuôi cha nuôi bà nội khỏi phải đi ăn xin cơm ăn ..”. Oâng Sáu Tường đứng im lặng nhìn họ ra về, vẫy tay cười mà nghẹn nghẹn ở cổ…
Chương trình “Mắt sáng cho ngươiø nghèo mù” không chỉ diễn ra ở những tỉnh thành lớn mà ông Sáu Tường và các bác sĩ nhân ái còn có mặt tại vùng núi cao- Điện Biên Phủ. Rừng núi Tây Bắc mùa đông lạnh thấu xương. Để đi tìm ánh sáng cho cuộc đời mình bà con dân tộc các bản làng xa xôi heo hút với tên gọi khó nhớ: Nà Ư , Ma Lù Thàng, Tây Trang đã phải mang theo hai ổ trứng gà cùng ruột gạo làm lộ phí và “hai người sáng phải cáng một người mù” để phóng qua những khe núi sâu thẳm, lội qua nhiều con suối to... Vừ A Phóng chỉ con mắt bôi thuốc đỏ vòng quanh nắm tay ông sáu Tường hỏi giọng thăm dò:”Mình thích sáng con mắt lắm, nhưng ông có phép thuật làm cho sáng con mắt thật được không ?”. Đến khi nhìn thấy mọi người quanh mình thì người đàn ông dân tộc Dao đã khóc thật to như bị ai đánh đau, gào lên :”Oâi mắt tôi được người nhà nước làm cho sáng lại thật rồi. Oâi Bác Hồ ơi.”.
Nào phải chỉ có người dân Tây Bắc kinh ngạc vào “phép thuật” của các bác sĩ mắt đi cùng ông Sáu Tường mà ở Gia Lai, nhiều bà mẹ Việt Nam Anh hùng cũng ngạc nhiên không kém. ”Giàng bắt mù phải chịu mù, cán bộ Đảng không làm khác ý Giàng được đâu ...”, các bà mẹ từ chối. Bí thư Tỉnh ủy và ông Sáu Tường đến thuyết phục mãi họ mới chịu đi mổ mắt. Khi chiếc băng mắt được mở ra, các bà mẹ đã bật khóc và họ nhìn lên phía núi cao hút mắt nói to:” Giàng ơi, cán bộ của Đảng cũng làm mình sáng mắt được như Giàng rồi…”. Oâng Nguyễn Vĩnh Nghiệp cười mà như nghẹn vì cảm động, ông nói :”Tôi rất vui vì đã giúp bà con dân tộc thấu hiểu tấm lòng của Đảng đối với người dân tộc một cách giản dị dễ hiểu nhất .“
6. NỖI BUỒN SAU CHIẾC QUAI NÓN
Trên chuyến đò trở về vùng đất mũi Cà Mau, ông Sáu Tường bồi hồi hỏi thăm rất nhiều, nhưng cô gái trẻ đưa đò vẫn chỉ lắc với gật. Rất lâu, cô gái đưa đò với đôi mắt rất buồn nói lời ngọng nghịu sau chiếc quai nón to che hết một phần mặt người. Hỏi mới biết cô gái bị hở hàm ếch.
Đến thăm nhà đồng đội cũ ông lại bất ngờ khi vợ bạn bế thốc đứa bé đang nằm trên giường bỏ chạy. Hỏi thăm mãi họ mới bế đứa con có tên gọi rất tội nghiệp:“thằng Quỷ”với miệng rách toác lộ hết răng lợi cùng đôi mắt cũng lồi lộ trên gương mặt biến dạng về cho ông thăm. Oâng Sáu Tường ngậm ngùi ôm thằng bé vào lòng và sau bốn cuộc phẫu thuật chỉnh hình, cu Toàn (tên thật của thằng Quỷ) đã có gương mặt người với nụ cười rất ngộ và giọng nói không còn ồm ồm ngọng nghịu vô nghĩa như xưa…
Chuyện buồn của cô gái đưa đò trên vùng sông nước Cà Mau qua đã rất lâu thì bất ngờ ông Sáu Tường nhận thiệp cưới lạ gửi đến. Trong thiệp có lá thư viết: “Con có chồng nhờ ân đức ông Sáu và các bác sĩ vá môi và sửa tiếng ngọng cho con, giúp con bỏ đi mặc cảm đau khổ. Bây giờ,con không cần che miệng nữa, con đội ơn nhà nước, đội ơn các bác sĩ và cầu mong sao ông Sáu sống thiệt lâu để cưú giúp những người đau khổ như con vậy…Con Hạnh”.
Nào chỉ vá môi, mổ mắt mù do đục thủy tinh thể, Hội BTBNN TP còn tặng xe lăn cho các cháu bị liệt chân và mang đến cho các trẻ khiếm thính giọng hát mẹ ru bằng những chiếc máy trợ thính đắt tiền. Mới đây, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp lại vừa mở ra con đường sống cho trẻ bị dị tật tim bấm sinh. Những ngày cuối tháng 7-2007, cơn đau thắt lưng đến chảy nước mắt vẫn không níu được bước chân ông đi đến với chương trình ca nhạc “Vạn trái tim, vạn tấm lòng” dành gây quỹ mổ tim cho trẻ bệnh tim đang cần được cứu giúp khẩn cấp. Hơn 30 tỉ đồng là số tiền mà chương trình nhận được từ các nhà hảo tâm trong và ngoài nước gửi đến sau khi ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp xuất hiện trên sân khấu nói lời tự tâm.
Cái giá của sự cố gắng vượt sức lần ấy là ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp phải đi cấp cứu ở Singapore hơn một tháng trời ….
Và cuối cùng. Ông sáu Tường đã đi thật xa nhưng trong hàng trăm ngàn đôi mắt được mở ra từ bóng tôi vẫn còn đó, hình ảnh của ông. Ông Sáu Tường. Nhắc đến ông Sáu để không thể nào quên tình cảm của người cán bộ

thơm mùi sen


Mùa Sen

Mênh mông sóng, vỗ về tình thương mẹ
Bao la mây trời, lồng lộng tình cha
Con ở nơi đâu, giữa trời và biển
Lá xuôi dòng , trắng bạc tóc tơ xa

Minh Lý

Bài thơ của một người bạn lớn của tôi. BS NGuyễn NGọc Chiếu đấy.


Nhớ mẹ ghê, dù chỉ cách nhau chục cây số nội đô chứ nhiêu...Mẹ. Mẹ ơi...con đang rất buồn.


Vu Lan 2007

phẫu thuật viên tim - PHAN KIM PHƯƠNG



VÀO PHÒNG MỔ VỚI TÂM THẾ NGƯỜI MẸ ĐI CỨU CON

Bác sĩ phẫu thuật tim Phan Kim Phương, Phó Giám đốc ViệnTim thành phố không chỉ là người có đôi bàn tay tài hoa, tấm lòng tận tụy dành cho sự sống của bệnh nhân, mà chị còn là một nhà khoa học không ngừng vươn lên để vượt qua chính thành tích và hiểu biết của mình, từng ngày.
Năm 2000, Nhà nước đã phong danh hiệu Anh hùng Lao động cho chị, một nữ phẫu thuật tim hiếm hoi của thế giới.
Đến nay, sau 17 năm, với hơn 25.000giờ trực tiếp phẫu thuật cho 8.000 trái tim đau yếu, chị không thể nhớ nổi trong đó có mấy ngàn bệnh nhân trạc tuổi con trai chị được cứu sống, có điều, lần nào bước vào những ca mổ cho bệnh nhân trẻ tuổi, chị đều mang tâm thế của người mẹ đi cứu con mình…


1. Năm 6 tuổi, một buổi sáng thức dậy Phương không thấy cha, mẹ đâu nữa. Cô giáo Mười Tây và thày giáo Tư Bắc của bộ phận T4 bị lộ thân phận, lệnh rút gấp về cứ và cô con gái nhỏ của họ - Phan Kim Phương được bên ngoại đón về Gò Công ngay trong đêm ấy.
Từ đó, thi thoảng, một - hai năm bé Phương được tổ chức bí mật đón lên thành phố thăm mẹ. Phương nhớ mãi hình ảnh mẹ – dịu dàng trong chiếc áo dài, khoan thai bước vào căn phòng nhỏ, trong có bé Phương đang hồi hộp đợi chờ. Cánh cửa phòng vừa đóng lại, mẹ ôm vội cô con gái nhỏ vào lòng. Cả hai cùng im lặng để nghe nhịp đập trái tim mình thổn thức. Mẹ chải mái tóc, lau mặt, cắt móng tay, trò chuyện với sự đồng cảm, thấu hiểu mọi điều cùng Phương; như giữa họ, chưa hề có cuộc chia ly. Vài tiếng đồng hồ gặp gỡ để rồi mẹ con lại chia xa. Và, lần nào cũng thế, khi cô giáo Mười Tây lầm lũi, kéo chiếc nón che khuất cặp mắt đỏ đi ra khỏi cửa thì bé Phương cũng cắn răng ngồi chết trân nhìn sững theo bóng mẹ ở góc phòng…
13 tuổi, Phan Kim Phương được tổ chức đưa ra bắc học. Những cánh đồng lúa, những bụi tre đung đưa trong gió lẫn trong dáng ngoại liêu xiêu xa dần, xa dần và mất hút trong mắt cô bé. Đi bộ ròng rã hơn 4 tháng trên những cung đường Trường Sơn đầy bom đạn, Phương và các bạn đồng trang lứa lả người vì những cơn sốt rét đeo đẳng họ triền miên. Những năm tháng học tập trên đất bắc, Phương vẫn có những giấc mơ về cánh đồng lúa màu xanh có ngoại cô hắt bóng ngả nghiêng theo nắng chiều, có tà áo dài màu xanh biển của mẹ ánh lên lúc chia tay.
30 tháng 4 năm 1975, cả ngôi trường dành cho học sinh miền Nam trên đất bắc không còn phân biệt ngày - đêm. Phương và các bạn cười nói đến khan tiếng vì nỗi vui mừng được quay về quê trong niềm vui thống nhất đất nước.
Tháng 6 năm 1975. Chiếc tàu từ bắc vào kéo còi cặp bến Sài Gòn, Phan Kim Phương dớn dác tìm cha mẹ, giữa muôn ngàn tiếng khóc – cười của ngày hội ngộ. Một người đàn ông mặc sơmi nhạt màu, đội nón phớt, dáng vẻ thư sinh đến trước mặt : “Phương phải không con?”. Phương nói như đang mơ “Dạ”.Và, khi ông ôm chặt vai hỏi : “Khoẻ há con?” thì cô khóc nức nở. Cha cô đấy ư? Phương đi theo bàn tay cha nắm chặt mà chân cô như bay lên...

2. Về lại thành phố đúng mùa thi đại học. Phương kiên quyết thi vào Đại học Y TPHCM, dù nhiều người cản ngăn. Trong trí nhớ của Phương, bàn tay mềm mại và mát lạnh của bà bác sĩ Lợi (vợ BS Lương Phán) khi lau những giọt mồ hôi trên trán nóng ran cùng với giọng nói dịu dàng của bà khi dỗ cô uống thuốc thưở nhỏ, lúc vắng mẹ, sao êm ái và ngọt ngào thế. Và, bà cùng với chiếc áo blouse trắng trở thành thần tượng của lòng Phương, từ thời thơ dại.
Tốt nghiệp, BS Phan Kim Phương được giữ lại làm giảng viên song song với công việc của một phẫu thuật viên tại Bệnh viện Từ Dũ. BS Phan Kim Phương sớm bộc lộ tài năng trong những ca mổ phức tạp và rất nhiều lần chị đã mang cả mẹ lẫn con về đời sống này an toàn, từ bờ thế giới bên kia. Năm 1989, Viện Tim được thành lập từ một dự án hợp tác y tế bậc cao giữa Việt Nam và Pháp, Bác sĩ Phan Kim Phương và êkíp mổ tim hở Việt Nam được cử đi học tại BV Brousair (Pháp), thời gian học là 3 năm, sau một đợt thi tuyển gắt gao. Chuyến du học dài ngày của chị được quyết định với bao day dứt, lưỡng lự giữa chuyện chung, chuyện riêng. Hình ảnh của đứa trẻ 6 tuổi ngơ ngác, sợ hãi khi sáng mở mắt ra đã không thấy cha, mẹ mình gần 30 năm trước trở về với Phương, thật nguyên vẹn khi chị buông tay con trai, cắn răng nuốt ngược nước mắt bước lên xe ra phi trường.
Paris, trời mùa đông xám buồn và lạnh buốt. Mùa đông trên đất khách năm ấy có một Phan Kim Phương bé nhỏ chạy lúp xúp giữa tuyết rơi trắng trời để tìm lại bến xe bus về nhà, khi bụng đói cồn cào và tay chân tê cóng. Phương cùng các đồng nghiệp đã học ngày, học đêm cả thứ bảy lẫn chủ nhật, ròng rã suốt hai năm liền. Với sự tận tình giúp đỡ của hai người thầy tận tụy là GS Alain Carpentier và GS Alain Deloche và chị cùng các bạn đã kết thúc khóa học trước hạn định một năm, trong sự ngạc nhiên và quí nể của đồng nghiệp xứ lạ.
. 3. Tháng 1/ 1992, BS Phan Kim Phương đứng mổ chính của kíp mổ tim hở đầu tiên tại Viện Tim cho bệnh nhân tên Duy, thằng bé bằng tuổi con trai Phương, 8 tuổi. Áp lực ca mổ này đối với Phương rất lớn bởi cả nước đang theo dõi tiến trình ca mổ và BS Phương “tự buộc” mình phải thành công để chứng minh rằng – các phẫu thuật viên tim Việt Nam đủ sức phụ trách các phòng mổ này. Đôi mắt tin cậy và nụ cười rất tươi của cu Duy, đã giúp “bác Phương” vững vàng bước vào phòng mổ, với tâm thế của người mẹ đi cứu con mình.
4 giờ sau. Lồng ngực thằng cu con khép lại. Máy tim phổi nhân tạo đã tắt và trái tim nhỏ bé của Duy bắt đầu đập nhịp nhẹ nhàng. Cả kíp mổ bắt tay chúc mừng và qua ô cửa kính, nhìn thấy cha mẹ bé Duy cúi rạp người nói lời cám ơn trong nước mắt thì Phan Kim Phương cũng trào nước mắt. Từ đó, BS Phan Kim Phương chính thức trở thành phẫu thuật viên chính của Viện Tim.
Tháng 8 / 2000, bác sĩ Phan Kim Phương được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động về những thành tích đã có.
23 giờ, đêm trước ngày nhận danh hiệu Anh hùng lao động, vừa ủi xong chiếc áo dài cho ngày vui lớn đời mình thì chị nhận điện thoại từ cơ quan báo có một bệnh nhân cấp cứu vừa chuyển đến từ bệnh viện Từ Dũ, sau sinh. Trên xe taxi, chị yêu cầu bác sĩ trực đọc bệnh án và chị đưa ra các yêu cầu cấp bách cho một ca phẫu thuật khẩn cấp. Ở sân bệnh viện chị gặp người chồng vừa chở ba đứa con nhỏ nheo nhóc trên chiếc xe xích lô đến nhìn mặt mẹ lần cuối.
0 giờ, phòng mổ đã sáng đèn.
BS Phan Kim Phương và kíp mổ bước vào ca mổ sinh tử với ánh mắt ngơ ngác, sợ hãi của lũ trẻ và những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt người chồng khốn khổ. Từng là phẫu thuật viên của BV Từ Dũ nên chị hiểu cần làm thêm những việc khác với cơ thể người mẹ đang như cái xác ve yếu ớt kia, ngoài việc cứu chữa trái tim đang đập loạn nhịp.
4 giờ sáng, người phụ nữ trở về từ cõi chết.
7 giờ sáng. Người đàn ông đen đúa, hốc hác dẫn 3 con nhỏ cũng ốm và đen như cha, đứng chờ bên hành lang viện và họ xá dài trong nước mắt, khi BS Phương đi qua…
Đó là ca mổ thứ 3.987 (trong 10.000ca của Viện Tim) do phẫu thuật viên Phan Kim Phương thực hiện. Theo chị, đó là món quà hạnh phúc mà chị tặng cho đời, nhân ngày chị nhận hạnh phúc của đời tặng chị.
Khi tôi hỏi, “Điều gì buồn nhất và vui nhất của Phương, sau gần 8.000 ca mổ?”
Phương ậm ừ, và kể - 1997, bé Lan, hơn một tháng tuổi được chuyển từ Hà Nội vào Viện trong tình trạng nguy cấp -không bú được mà phải bơm sữa mẹ qua thực quản. Đứa bé nặng chưa đầy 4,2kg, toàn thân tím tái, lồng ngực bé như bất động. Chị ghé tai vào sát lồng ngực bé xíu để tìm nhịp thở của nó bằng chính đôi tai người mẹ. Hội chẩn gấp và chị quyết định mổ khẩn cấp. Đứa bé nằm lọt thỏm bất động giữa mớ vải vóc che đậy lùm xùm, chỉ có trái tim bé nhỏ như trái dâu tây thoi thóp đập. “Khi ấy Phương cũng sợ lắm. Tim trẻ nhạy cảm rất dễ rung thất. Nếu rung thất, mọi việc sẽ…hết ”, chị nói thế với gương mặt vẫn còn xúc động. Chị nhớ lại – khi đặt trái tim bé xíu trên tay, tim chị đập nhanh vài nhịp, chị cảm thấy như đang cầm trên tay số phận con mình và chị đã làm hết sức. Nhìn đứa bé nằm trong cái lồng hấp với những bóng đèn nhỏ xíu, hắt sáng lung linh. BS Phương và BS Thanh cùng cười. Ca mổ này đã khiến các phẫu thuật viên tim mạch khu vực kinh ngạc, bởi đứa trẻ quá nhẹ cân và Viện Tim không có phòng mổ dành riêng cho trẻ sơ sinh. Mới đây, “bé Lan vào tái khám và báo đã vào lớp 1, Phương vui lắm”, chị nói.
Còn chuyện buồn ?.
“Chị phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi, mang thai con thứ tư ở tháng thứ 5 đã chuyển đến viện trong tình trạng suy tim cấp…” giọng BS Phương nhẹ và buồn khi kể lại chuyện cũ. Sau hơn 4 giờ đồng hồ vắt cạn sức lực cho ca mổ, chị và ê kíp mổ đành chịu thua trước lưỡi hái tử thần.Chị phụ nữ suy tim và chết cùng bào thai 5 tháng tuổi trên bàn mổ. Vẫn biết, những cuộc chạy đua sinh - tử để giành lại mạng sống của bệnh nhân từ tay tử thần, không phải lúc nào cũng thành công. Vẫn biết đó là việc đau xót ngoài ý muốn. Nhưng sao chị vẫn cảm thấy lòng mình tê dại khi phải kéo miếng vải trắng che qua mặt chị phụ nữ với cái bụng cao vượt mặt.
Là người nghiêm túc với công việc và say mê nghiên cứu, nhiều tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới đã đăng nhiều báo cáo khoa học của chị và tạp chí “Khoa học phẫu thuật tim - lồng ngực Châu á” đã mời chị làm nhà tư vấn chuyên môn cho họ. Năm 2000, với đề tài "Kỹ thuật sửa van hai lá, ba lá, van động mạch chủ", bác sĩ Phan Kim Phương đã khiến các đại biểu dự Hội nghị quốc tế do Hội Phẫu thuật lồng ngực và tim mạch nói tiếng Pháp tổ chức tại Paris ngẩn ngơ khi họ biết chị đang về kinh nghiệm của 4.000 ca mổ do chị trực tiếp thực hiện. Tại Hội nghị về “Phẫu thuật tim thế giới” tổ chức ở Leipzig, nước Đức năm 2005, nhiều bác sĩ phẫu thuật trên thế giới đã không dấu vẻ cảm phục khi nghe con số 6.000ca mà chị đã trực tiếp phẫu thuật trong suốt hơn chục năm liền. Và, ở hội nghị ấy, Phan Kim Phuơng là bác sĩ phẫu thuật tim nữ duy nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương được mời.


4. Trở thành phẫu thuật viên hàng đầu của Viện Tim với những ca mổ tưởng chừng như không thể; bác sĩ Phan Kim Phương vẫn sống rất giản dị. Giữa muôn ngàn người qua lại trên phố đông, vài năm trước không ai nhận ra “ phẫu thuật viên vàng” đi bên cạnh mình, bởi chị vẫn đi làm bằng xe gắn máy, vẫn thỉnh thoảng chở Trung, cậu con trai đi bơi, hoặc cùng chồng đi chơi bằng xe gắn máy. Bây giờ, người ta sẽ thấy ngược lại, một mẹ Phương nhỏ bé ngồi sau xe của cậu con trai vững chãi 24 tuổi đi loanh quanh đâu đó trên phố đông. Thời gian trong ngày của chị phần lớn đều ở viện, thỉnh thoảng chị cũng nấu cơm cho chồng, con.
BS Phương có bề ngoài nghiêm nghị và hơi lạnh, thật ra chị là người rất tình cảm và lãng mạn. Sau một ngày vất vả cưu mang trên đôi tay nhỏ bé mình hàng chục sinh mạng, chị trở về nhà với thú vui nhẹ nhàng – nghe nhạc, xem phim, đọc sách và trò chuyện cùng gia đình. Trên vách tường phòng làm việc của chị rất nhiều bức tranh vẽ chị của các bệnh nhân nhỏ tuổi tặng, trước khi xuất viện.Chị bảo, đó là hạnh phúc mỗi ngày mà chị muốn thấy.
Tôi hỏi trước lúc chia tay:“Nếu được ước một điều thôi, Phương ước gì?”, Phương nói ngay: “Tôi ước tất cả bệnh viện các khu vực đều có khả năng nhận bệnh và có điều kiện để chữa trị, phẫu thuật tim tốt để không còn cảnh người bệnh phải chết, trong khi chờ được cứu sống”.

Lê Hoàng, trong mắt tôi

Nhìn những bức ảnh của Lê Hoàng trên một blog và tôi thấy trống rỗng trong đầu. Nụ cười của anh Hoàng vẫn thế tuy gương mặt có nhiều mỏi mệt. Nhớ, khi xưa anh Hoàng còn ở bên Nhà Xuất bản trẻ. Ngày ấy anh hay cười, nụ cười hiền hậu và giọng nói nhẹ nhàng, thân thiết. Nhớ, những dịp gần tết, lúc nhóm anh em Thành đoàn ngày xưa họp mặt ở Kỳ Hòa, do anh đứng ra tổ chức, nói tổ chức tức là bao thầu kêu gọi hỗ trợ tài chánh luôn. Những lúc ấy ai cũng vui, cũng trẻ trung, khi ấy giọng nói và nụ cười anh rất trẻ, hồn hậu, sảng khoái. Ngày xưa, khi anh còn là Giám đốc Nhà XB Trẻ, các nhà văn, nhà thơ kẹt tiền đến đề nghị anh ứng tiền nhuận bút tập sách, tập thơ. Chẳng cần đọc bản thảo, anh vẫn ứng tiền cho các tác giả. Họ cười, anh cũng cười. Có khi, cả năm sau họ chưa mang bản thảo trả nợ nhà xuất bản, anh cũng chẳng nhắc. Anh hiểu tâm tính các nhà văn, nhà thơ. Chơi với bạn, với anh em, anh là người chân tình. Lê Hoàng trong mắt tôi là thế.
Khi nghe anh sang Tuổi Trẻ làm Tổng biên tập, tôi đã lo anh sẽ không trụ nổi vì bên Tuổi Trẻ rất cá tính mà anh thì lành tính, sợ anh không quen nổi cách "chiến đấu" bên ấy. Thế rồi anh cũng làm được nhiều việc và trụ ở đó 6 năm. Thôi thì, chúc anh thanh thản